Ông Lý Tường Quan (1842 – 1896), tên thật là Phước Trai, được người đời gọi bởi danh xưng bá hộ Xường - doanh nhân người Hoa được xếp thứ ba trong Tứ đại Phú hộ Sài Gòn.
Chuyện ít người biết về Lý Tường Quang (1842-1896, còn gọi là bá hộ Xường), nhân vật giàu thứ 3 trong 4 đại hào phú Sài Gòn và Nam Kỳ lục tỉnh xưa là ông lấy cả ba chị em ruột làm vợ...
Cởi áo quan… đi buôn
Tọa lạc trên con đường sầm uất nhất của Chợ Lớn, nhà số 292 Hải Thượng Lãn Ông, phường 14, quận 5, TPHCM là một tòa nhà phố bề thế, được xây theo kiến trúc Á - Âu. Tòa nhà được công nhận là “Di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp TPHCM năm 2009. Đó đã từng là nhà, trụ sở giao dịch, buôn bán của bá hộ Xường, một trong tứ đại hào phú giàu nức tiếng Sài Gòn thế kỷ 19.
Theo đoàn người Minh Hương từ Trung Hoa sang Việt Nam lập nghiệp khoảng năm 1820, ông Lý Sáng Ái (1781 - 1855) quê ở huyện Phiên Ngung, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc vượt biển đến Cần Giờ định cư, hành nghề bốc thuốc, chữa bệnh, coi tướng số. Ông lấy vợ Việt là bà Trần Thị Thơ sinh hạ được hai người con trai là Lý Đông Quang và Lý Tường Quang.
Từ nhỏ, Lý Tường Quang đã thông minh, dĩnh ngộ, có tài quán xuyến với sự nhìn xa trông rộng. Lên 12 tuổi, ông thông thạo nhiều ngoại ngữ. Quang được viên quan Pháp Gandot mời ra làm thông ngôn, rồi giao cho ông chức Bang trưởng cai quản 7 bang người Hoa vùng Sài Gòn - Chợ Lớn.
Ông Lý Tường Quang và vợ cả Nguyễn Thị Lâu (ảnh chụp từ tư liệu gia đình).
30 tuổi, Lý Tường Quang xin nghỉ việc để đi buôn. Ban đầu ông kinh doanh thực phẩm, cá, mắm. Ông thu mua cá ở lục tỉnh, mang lên bán ở Chợ Lớn và Sài Gòn. Ngoài cá tươi, ông còn cho chế biến cá khô, mắm để bán ở các vùng xa hơn, và xuất khẩu cá khô ra nước ngoài.
Sự am hiểu và có mối quan hệ với người Pháp giúp nhiều cho việc giao thương của ông. Ông lập công ty Kim Bảo, mở rộng kinh doanh, sau khi thu mua thịt cá ở miền Tây bán cho người thị tứ, ông bán ngược lại nhu yếu phẩm về nông thôn.
Hệ thống thu mua của ông mở rộng chân rết khắp tỉnh thành, việc buôn bán càng phát đạt. Giới kinh doanh lưu truyền, gần một nửa dân miền Tây ngày đó mua hàng hóa nhu yếu phẩm từ bá hộ Xường.
Trở nên giàu có, dân gian gọi ông là bá hộ Xường. Xường là tên gọi ở nhà của ông, là chữ Tường đọc theo tiếng Hoa. Gia sản của bá hộ Xường tiếp tục phất lên khi ông đầu tư qua bất động sản. Phương thức mua bán của ông khá đơn giản, mua đất, sau đó xây nhà phố rồi cho thuê lại.
Bá hộ Xường tìm cách mua nhiều khu đất ruộng, đất hoang giá rẻ rồi đầu tư xây địa ốc để… chờ thời. Nhờ vậy, gia sản của ông phất lên cực thịnh giai đoạn này. Phần lớn nhà cửa trong vùng Chợ Lớn Mới và vài quận lân cận đều là của bá hộ Xường xây cho thuê.
Ông Lý Thanh Liêm bên bức ảnh cụ tổ Xường chụp kỷ niệm cùng vợ con.
Dịch Tam tự kinh để lại cho con cháu
Ông Lý Thanh Liêm (62 tuổi, hiện ngụ tại quận Gò Vấp, TPHCM, cháu đời thứ 5 của bá hộ Xường) kể: “Theo gia phả ghi lại và lời truyền kể của các ông bà đời trước thì ông bá hộ là người chăm nom cho vợ con đến từng bữa ăn, giấc ngủ. Tính tình ông điềm đạm, không sa đà vào ăn chơi đàng điếm”.
Tài quán xuyến gia đình của bá hộ được minh chứng là ông lần lượt lấy ba bà vợ chính thức, mà cả ba lại là... chị em ruột. Đây là câu chuyện kỳ lạ, bởi giới quan lại, hào phú thời phong kiến, chuyện năm thê bảy thiếp là bình thường nhưng dù có lấy cả chục vợ, hiếm có ai “đánh cả cụm” như bá hộ Xường. Cả ba người vợ chị em này lần lượt sinh hạ cho bá hộ Xường 10 người con.
Tài cầm kỳ thi họa của bá hộ Xường được ghi lại và lưu truyền đến ngày nay. Ông Lý Thanh Liêm cho biết, nhà nghiên cứu Võ Văn Sổ gần đây đã tìm được mấy tập sách nhỏ do bá hộ Xường viết, ký tên là Phiên Thành Phước Trai tiên sinh, do nhà in Hòa Nguyên Thạch và Văn Nguyên Đường (tại Trung Hoa) in, gồm ba bộ: Ấu học thi diễn nghĩa, Thiên tự văn diễn nghĩa, Tam tự kinh diễn nghĩa.
Đây là những tác phẩm nổi tiếng của Trung Quốc, được bá hộ Xường dịch từ Hán sang Nôm bằng thơ lục bát cho dễ đọc, dễ nhớ. Cứ mỗi một câu Hán - Việt được dịch ra thành hai câu lục bát, cứ liên tục như vậy cho đến cuối bài.
Sau hơn 20 năm gầy dựng sự nghiệp, vui vầy với vợ con và đang ở đỉnh cao, bá hộ Xường đột ngột qua đời vào ngày 21/10/1896 sau một cơn đột quỵ, thọ 54 tuổi. Trước khi mất, bá hộ Xường lập di chúc để lại tài sản cho vợ con.
Nội thất và cổ vật của bá hộ Xường để lại, tại nhà thờ họ Lý, số 292 Hải Thượng Lãn Ông, quận 5.
“Dòng họ Lý hiện nay chỉ còn lại vài người ở Việt Nam. Hiện người cháu đời thứ 4 là Lý Toàn Anh (90 tuổi) làm trưởng tộc. Tuy ông bá hộ để lại một gia sản đồ sộ, nhưng con, cháu ông không mấy người đi theo nghiệp kinh doanh, buôn bán.
Ông bá hộ và bà vợ đầu Nguyễn Thị Lâu chỉ có một con trai duy nhất là Lý Thanh Vân cũng không theo nghiệp cha, đa số con, cháu làm công chức. Chỉ có người con trai thứ 6 của bà vợ cuối nối nghiệp. Nhưng biến cố Đại khủng hoảng kinh tế thế giới đầu thế kỷ 20, khiến ông sạt nghiệp”, ông Lý Thanh Liêm nói.
Hiện nay, khu mộ vợ chồng bá hộ Xường nằm trong hẻm 79/30 đường Phú Thọ Hòa (phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú). Mộ ông mang nhiều nét độc đáo của kiến trúc cổ Trung Hoa (nhà mồ có mái che, mặt tiền nhà mồ có cửa vòm chính giữa, trên vòm cửa có chữ Lý, hai bên trang trí dây leo hoa lá, trái quả)…
Điểm độc đáo là trước mộ có hai tượng người bằng đá đứng hầu. Bên phải là tượng người đàn ông (tên Lương Phước Thắng), cao khoảng 1,5m, khá lực lưỡng, mặc áo dài, đầu đội nón, chân đi giày, hai tay nâng một chiếc hộp. Đối diện là tượng người đàn bà (tên là Kiều Thoại Hương), có nét mặt nhu mì, đầu trần tóc búi, mặc áo dài, chân đi hài, hai tay nâng tách nước…
Con cháu bá hộ Xường hiện nay vẫn còn đông, đa số sống tại TPHCM, một số khác hiện sống ở Pháp, Canada… Mỗi năm đến ngày cúng giỗ, Tết Nguyên đán, con cháu đều tề tựu đông đủ bên lăng mộ để tỏ lòng tri ân.
Vị trí dẫn đầu thuộc về Nhất Sỹ, tên thật là Lê Phát Đạt (1841–1900), còn được gọi là Huyện Sỹ do từng được chính quyền Pháp phong Huyện hàm. Ông quê ở làng Bình Lập, tỉnh Tân An (nay thuộc Long An), theo đạo Công giáo với tên thánh Philipphê và từng học trường Dòng tại Penang thời trẻ. Sau này, ông tham gia Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ nhưng phần lớn thời gian tập trung phát triển nông nghiệp và hỗ trợ các hoạt động Công giáo. Với khối tài sản cự phú, ông đã tự bỏ tiền xây dựng Nhà thờ Huyện Sỹ (Quận 1) và Nhà thờ Chí Hòa (Quận Tân Bình) trên chính đất đai của mình. Cháu ngoại của ông là Nguyễn Hữu Thị Lan sau này trở thành Nam Phương Hoàng hậu, vợ của vua Bảo Đại.
Xếp thứ hai là Nhì Phương, tên thật là Đỗ Hữu Phương (1844–1914), thường gọi là Tổng đốc Phương. Ông sinh tại Chợ Đũi (Sài Gòn), gốc Minh Hương, am hiểu chữ Hán và tiếng Pháp. Sau khi Pháp chiếm Gia Định, ông hợp tác với chính quyền thuộc địa vây bắt một số thủ lĩnh phong trào kháng Pháp như Trương Quyền, Phan Tôn, Phan Liêm, Nguyễn Trung Trực và Nguyễn Hữu Huân. Năm 1872, ông được chỉ định làm hội viên Hội đồng thành phố Chợ Lớn. Bằng tiềm lực tài chính lớn, ông là một trong những người đề xướng và tài trợ xây dựng trường Collège de Jeunes filles Indigènes (Trường Nữ Trung học Sài Gòn hay trường Áo Tím), nay là Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai.
Vị trí thứ ba thuộc về Tam Xường, tức Lý Tường Quan (tự Phước Trai), người Minh Hương. Do tài sản kếch xù, dân gian thường gọi ông là Bá hộ Xường hoặc Hộ Xường. Thời trẻ, nhờ thông thạo tiếng Pháp cùng ngôn ngữ Hoa – Việt, ông làm thông ngôn cho chính quyền Pháp. Đến năm 30 tuổi, ông chuyển sang kinh doanh dịch vụ, lương thực, nhận thầu cung cấp vật dụng, thức ăn và độc quyền cung cấp thịt, cá cho vùng Sài Gòn cùng các tỉnh lân cận.
Ở vị trí thứ tư, dân gian có nhiều góc nhìn khác nhau:
Tứ Định: Tên thật là Trần Hữu Định, giàu lên nhờ mở tiệm cầm đồ, kinh doanh bất động sản và xuất nhập khẩu vải sợi. Ông nổi tiếng nhờ khả năng nắm bắt thời cơ trong những giai đoạn hàng hóa khan hiếm, sở hữu nhiều biệt thự tại Chợ Lớn và được người dân gọi là Bá hộ Định. Tuy nhiên, sau khi ông qua đời, con cháu không giữ được cơ nghiệp khiến tài sản bị thất thoát. Tứ Hỏa: Tên thật là Hui Bon Hoa (1845–1901), tên Hán-Việt là Huỳnh Văn Hoa, thường gọi là Chú Hỏa. Ông là người Việt gốc Hoa theo Công giáo, sáng lập công ty bất động sản Hui Bon Hoa sở hữu hơn 20.000 căn nhà tại Sài Gòn. Ông để lại nhiều công trình có giá trị kiến trúc tồn tại đến ngày nay như Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, Khách sạn Majestic, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Đa khoa Sài Gòn và khu nhà khách chính phủ. Con gái ông qua đời vì bệnh phong cùi thời trẻ cũng là nguồn gốc cho giai thoại "Con ma nhà họ Hứa". Tứ Trạch: Tên thật là Trần Trinh Trạch (1872–1942), thường gọi là Hội đồng Trạch do từng tham gia Hội đồng Tư mật Nam Kỳ. Tương truyền ông xuất thân nghèo khó, từng đi học thay cho con chủ điền người Pháp để lấy vốn chữ nghĩa, sau làm viên chức tòa bố tỉnh Bạc Liêu. Nhờ am hiểu luật pháp, ông giàu lên nhanh chóng qua việc thâu tóm điền địa. Ông cũng là đồng sáng lập kiêm Chánh hội trưởng Ngân hàng Việt Nam (1927) – ngân hàng đầu tiên do người Việt điều hành. Con trai thứ ba của ông chính là Trần Trinh Huy, người nổi danh với biệt hiệu "Công tử Bạc Liêu". Tứ Bưởi: Tên thật là Đỗ Thái Bưởi (1874–1932), tức Bạch Thái Bưởi (do làm con nuôi một gia đình họ Bạch). Ông xuất thân từ gia đình nông dân nghèo ở Thanh Trì (Hà Nội), từng làm ký lục cho hãng buôn Pháp tại Hà Nội nên còn có biệt danh Ký Năm. Sau này, ông vươn lên trở thành nhà tư sản dân tộc tiêu biểu thế kỷ XX, gặt hái thành công lớn khi cạnh tranh trong các lĩnh vực vận tải đường thủy, khai thác mỏ và xuất bản (sở hữu Giang Hải Luân thuyền Bạch Thái Bưởi công ty và Đông Kinh ấn quán).
Ngoài Tứ đại phú hộ, thời kỳ này còn ghi nhận nhiều đại địa chủ và nhà tư sản nổi tiếng khác như Quách Đàm (1863–1927) - thương gia gốc Hoa có công xây dựng Chợ Bình Tây, Trương Văn Bền (1883–1956) - người sáng lập thương hiệu Xà bông Cô Ba, và đại điền chủ Trần Chánh Chiếu…
Sự thăng hoa về tài chính của các đại gia tộc này gắn liền với quá trình đô thị hóa Sài Gòn - Chợ Lớn và chính sách khai thác điền địa của Pháp. Dù nguồn gốc tích lũy tư bản khác nhau, di sản kiến trúc và danh tiếng của họ vẫn là một phần câu chuyện lịch sử văn hóa Nam Bộ thời kỳ giao thời.
.jpg)

-01-transformed%20(2)%20(1).jpeg)

.jpg)






























